CHUỒN CHUỒN ỚT CÁNH MỎNG - Nguyễn Xuân Dũng

CHUỒN CHUỒN ỚT CÁNH MỎNG

Truyện ngắn: Nguyễn Xuân Dũng

 

Cứ mỗi lần về quê, tôi thường ra khúc đê vắng trước nhà, lang thang tìm kiếm con chuồn chuồn ớt. Mọi người thấy thế làm lạ, riêng có một người hiểu được thì người ấy và tôi cách xa nhau hơn mười lăm năm chưa một lần gặp lại. Lần này cũng vậy, tôi đang đi dọc bờ đê, vừa đi vừa tìm kiếm, vừa nghĩ về người ấy, thì như có một phép lạ, người ấy đứng sững trước mặt. Em khoác chiếc áo véc màu đỏ sáng, tóc búi gọn phía sau, nhìn tôi với đôi mắt long lanh như đôi mắt chuồn chuồn... Vẫn là đôi mắt thẳm sâu ngày ấy. Đôi mắt mà đã bao lần tôi thầm mơ được lặn sâu vào đáy để được khám phá, để được thỏa lòng. Thời gian và cuộc sống không làm khác đi được đôi mắt ấy. Hình như trong đó vẫn có một ngọn lửa đang cháy... Trong vài ba phút tôi như quên sự hiện diện của em, tôi quên khung cảnh chiều đông se lạnh trên quảng đê vắng, quên dưới kia con sông đang lửng lờ trôi, chỉ còn lại trong sâu thẳm hình bóng em ngày ấy.

 

- Anh Dương về thăm bác đấy ư?

 

Câu hỏi của em kéo tôi về với hiện tại, làm tôi lúng túng vụng về giơ tay ra bắt tay em.

 

- Nguyệt! Lâu quá rồi phải không?

 

Tôi giữ lâu bàn tay em đến nỗi cảm nhận được tiếng mạch đập dồn và dòng máu nóng chảy dưới làn da mịn màng của em. Em thẹn thùng nhìn tôi như trách móc, rồi nhẹ nhàng rút bàn tay ra khỏi bàn tay tôi. Chúng tôi lặng lẽ sánh vai nhau đi dọc bờ đê, kỷ niệm cứ cồn cào trong lòng mỗi đứa, những ngọn cỏ líu ríu dưới bàn chân, những con chuồn chuồn cẩm, chuồn chuồn kim dạn dĩ bay quanh, gió dưới sông thổi lên se lạnh, cả hai cố ý đi sát lại gần nhau hơn. Tôi và em dừng lại và ngồi lên chiếc bệ cống. Âm thanh của dòng nước chảy qua nghe quen tai như một bản nhạc ưa thích.

 

          Vẫn dáng ngồi ấy, vẫn mái tóc dài ôm xỏa bờ vai mà ngày xưa tôi gọi là suối tóc và ước có một ngày được nâng niu vuốt ve làn tóc ấy...Em ngắt nhẹ những ngọn cỏ chân chim và mơ màng nhìn ra rặng bần xanh ngắt trước mặt. Tôi sung sướng tận hưởng cảm xúc đê mê được ngồi bên em, chỗ ấy ngày xưa đầy ắp kỷ niệm. Chốn quê thật êm ả thanh bình. Nguyệt thủ thỉ nói với tôi rằng tôi chẳng khác với ngày xưa là mấy, còn em thì em tự nhận đã sắp thành một bà già rồi. Và em hỏi tôi là đánh mất cái gì trên bờ đê mà nhơn nhác tìm kiếm vậy. Nhìn sâu vào mắt em, mỉm cười tôi nói:"Mười lăm năm trước đây anh đã đánh rơi nó, bây giờ thật khó tìm lại được". Em cười hồn nhiên và bảo tôi nói xạo, nụ cười thật vô tư, làm ấm cả làn gió heo may. Bất chợt một con chuồn chuồn ớt đỏ dọi từ đâu bay đến đậu xuống ngọn cỏ chân chim, ngay trước mặt hai đứa. Gió nhẹ nhàng đung đưa ngọn cỏ, con chuồn chuồn như một ngọn lửa đỏ chập chờn cháy lên trước hoàng hôn. Em quay sang tôi, nét mặt lộ rõ sự vui mừng, giọng nói nhẹ nhàng nghe như từ một cõi xa xăm nào đó cả về thời gian và không gian;

 

- Anh Dương kìa, con chuồn chuồn của anh.

 

- Có đúng vậy không Nguyệt? Tôi hỏi với giọng run run và hụt hơi, cảm giác như rơi vào trạng thái của người mộng du. Có lẽ nào cái tôi tìm  đã hiện diện, con chuồn chuồn của mười lăm năm trước mà tôi hằng cầu nguyện đã về đây rồi ư? Nó về đúng cái chỗ ngày xưa nó đã đậu, nó về đúng thời điểm sau hơn mười lăm năm tôi gặp lại Nguyệt. Định mệnh hay là chỉ một sự tình cờ? Tôi không thể lý giải được, chỉ thấy cái gì đó phảng phất hương vị của cổ tích và huyền thoại. Bấc giác tôi quay sang Nguyệt với cái nhìn lạ lẫm, tôi ngỡ em như cô tiên đang ngồi trước mặt tôi, mờ ảo trong làn sương chiều mỏng mảnh...Phải mất đến một lúc sau tôi mới định thần lại được. Con chuồn chuồn ớt vẫn đậu nguyên chổ cũ, hình như nó không có ý định bay đi.

 

          Tôi hỏi Nguyệt: "Anh bắt nhé". Tôi hỏi để mà hỏi chứ thực ra tôi đã rón rén bước lại gần con chuồn. Bằng một động tác nhẹ nhàng, thuần thục như đã được huấn luyện từ trước, tôi bắt được con chuồn chuồn một cách dễ dàng. Hình như nó cũng tự nguyện làm "tù binh" của tôi. Tôi quay lại để trao con chuồn chuồn cho em, hình dung em sẽ vui vẻ lắm. Nhưng điều xảy ra hoàn toàn ngược lại, em vụt đứng dậy nhìn tôi với đôi mắt tủi hờn. Không nói một lời, em quay người và bỏ chạy một mạch dọc triền đê vào làng. Tôi đứng như chôn chân tại chổ, mắt nhìn theo dáng em xiêu xiêu  trong ánh vàng của hoàng hôn mà lòng se sắt, rồi chợt nhận ra cái giận của em ngày xưa đối với tôi ghê gớm biết chừng nào. Trong tôi dâng lên một niềm thông cảm và hối hận đến tột cùng. Con chuồn chuồn ớt vẫn nằm trong tay tôi ngoan ngoãn. Tôi bỏ nó vào hộp thuốc lá chỉ còn lại vài điếu rồi buồn bã quay về nhà.

 

          Mẹ tôi đứng chờ tôi trước cổng nhà, mẹ nhìn vào vẻ mặt thẫn thờ của tôi lo lắng hỏi:

 

- Con đi đâu về, mặt mày sao tái nhợt thế kia? Coi chừng bị cảm lạnh con ạ, mẹ đã đun nước lá thơm, vào tắm rồi ăn cơm.

 

          Trong bữa cơm tối mẹ cho tôi biết đôi điều về Nguyệt. Mấy năm trước Nguyệt chuyển vùng theo Tiến vào Nam. Tiến đã chuyển ngành ra dân sự, làm ở một cơ quan kinh tế gì đó, Nguyệt dạy học ở một trường cấp 2. Thế rồi sau một vài năm đầu đổi mới, mọi điều còn lạ lẫm, bỡ ngỡ và đầy sức cám dỗ, mặc dầu là một người lính từng trải ngoài chiến trường, nhưng Tiến đã gục ngã trên thương trường. Hơn nữa cuộc sống gia đình vốn đã nặng nề trước đó, Tiến biết rõ là Nguyệt không yêu Tiến, còn Nguyệt lại quá thành thực với tình yêu của mình nên Nguyệt không thể khác đi được, cái hố ngăn cách ngày càng rộng ra, không thể hàn gắn. Vậy rồi điều sẽ xẩy ra đã xẩy ra, Tiến cặp bồ với người đàn bà khác và bỏ rơi mẹ con Nguyệt. Nguyệt thanh thản chia tay với Tiến, mang theo cháu Nga, con gái Nguyệt quay trở về quê hơn một năm nay và dạy học tại trường cấp 2 xã nhà. Thỉnh thoảng Nguyệt sang thăm mẹ tôi. Mỗi lần sang Nguyệt thường ở lâu, giúp mẹ tôi vài việc lặt vặt và cùng mẹ ôn lại chuyện ngày xưa, kể đủ tội của tôi để mà thương, mà nhớ. Tôi như sợi dây nối hai người lại, làm cho hai người đàn bà bớt nổi cô đơn.

 

          Tối, cơm nước xong, xin phép mẹ tôi sang thăm Nguyệt. Mẹ cười móm mém và mắng yêu tôi, còn không quên nhắc tôi về sớm kẻo lạnh.

 

          Nhà Nguyệt ở cuối xóm, vẫn là ngôi nhà gỗ ngày trước, ngôi nhà mà tôi thân thuộc đến từng gốc cây, từng viên gạch lát. Ngày ấy tôi học cùng với Nam, anh trai Nguyệt. Nguyệt học sau tôi một lớp. Trong tốp bạn của chúng tôi còn có Tiến, người sau này là chồng của Nguyệt. Chúng tôi học cùng nhau và ngủ chung chăn. Bao kỷ niệm của quãng đời học trò đầy ắp nơi đây. Chính tại đây, lần đầu tiên trong đời tôi phát hiện được ngôn ngữ thầm của người con gái, từ Nguyệt.

 

          Tôi bước vào sân và lên tiếng. Nguyệt từ trong nhà bước ra đón tôi. Tôi có cảm giác như khuôn mặt em mang cả ánh đèn từ trong nhà ra khoảng sân tối, đôi mắt em lóng lánh dưới bầu trời mùa đông thưa thớt sao, mùi hoa ngọc lan thoang thoảng đâu đây nghe rất gần. Điệu bộ em có vẻ hồ hởi hơn lúc ban chiều, tôi cảm giác như em đang có ý đợi tôi. Chỉ có điều đó thôi cũng đủ biến tôi từ một gã trung niên từng trải thành một đứa học trò ngây ngô khờ khạo năm nào. Tôi bước theo em vào nhà. Dưới ánh đèn nê-on em trẻ hơn nhiều so với tuổi 35. Em mặc bộ đồ đen cổ rộng và thắt eo, trông huyền diệu, bí ẩn. Ngày xưa tôi gọi em là "thanh nam châm biết nói", cho đến bây giờ tôi cảm nhận thấy "thanh nam châm" đó còn nguyên từ tính. Em vẫn đẹp, hay ít ra trong mắt tôi em còn rất đẹp, vẻ đẹp của người đàn bà đằm thắm, sâu lắng và quyến rũ. Ngồi trước em dưới mái ấm gia đình, được nghe em nói, được nhìn em cười, mọi vướng bận, lo toan, mọi ưu phiền lo lắng về em đều tan biến. Khoảng cách về thời gian giữa tôi và em hình như không còn hiện hữu, có một chút bối rối, vụng về nơi em, nhưng rồi nó qua đi rất nhanh. Em pha chè rót nước mời tôi với cung cách như ngày xưa và gọi vào nhà trong:

 

-  Nga đâu, ra chào bác Dương đi con.

 

Sau tiếng dạ, một cô bé chừng 10, 11 tuổi có đôi mắt trong và sáng trên khuôn mặt trái xoan đứng khoanh tay chào tôi với một giọng điệu nhí nhảnh và hồn nhiên:

 

-  Cháu chào bác, bác có phải là bác Dương trong ảnh mà mẹ Nguyệt thường lấy ra xem rồi khóc nhè không ạ!

 

  Nguyệt đỏ mặt mắng con:

 

- Bậy nào, thôi con vào học bài đi.

 

Nga lễ phép dạ và đi vào buồng trong, không quên quay lại nhìn tôi với ánh mắt tinh nghịch, đầy vẻ khuyến khích với một câu tiếng Anh khá chuẩn:

 

-  I hope you have good time.

 

          Tôi mỉm cười nhìn theo cháu và quay sang Nguyệt:

 

- Hệt phiên bản của em ngày xưa.

 

Câu nói của tôi vô tình làm em thoáng buồn. Em cầm chén nước xoay xoay trên mặt bàn, đôi hàng mi dài phủ xuống đôi mắt ươn ướt:

 

- Vậy thì con bé rồi sẽ khổ ư?

 

Tôi hiểu mình vừa chạm vào "vỉa quặng tâm sự" của em mà đã bao lâu nay em cố vùi kín trong lòng. Em lặng lẽ đứng dậy mở tủ lấy ra một chiếc hộp màu đỏ, nhỏ nhắn y như chiếc hộp đựng huân chương  và đặt nó trước mặt tôi. Em bảo tôi thử đoán xem chiếc hộp đó đựng gì. Tôi cố hình dung ra trăm thứ kỷ vật nhưng em đều mỉm cười và lắc đầu. Sự kiên nhẫn không đủ cho tôi chờ thêm được nữa, tôi mở hộp. Dưới lớp nhung mỏng được tôi lật ra là một con chuồn chuồn ớt khô đét, phai màu nhưng vẫn nguyên hình, đôi cánh mỏng đã rời khỏi thân và được xếp ngay ngắn bên cạnh. Tôi quá bất ngờ và xúc động mạnh, dẫu biết đó là con chuồn chuồn định mệnh, con chuồn chuồn của hơn mười lăm năm về trước và cũng có thể là nguyên mẫu của con chuồn chuồn ớt chiều nay tôi bắt được trên bờ đê. Ôi số phận của con người, dòng chảy của cuộc đời, định mệnh, tình cờ, tìm kiếm, bắt gặp...không, quyết không thể là tình cờ, chỉ còn là chỗ tiềm thức, tư duy tình cảm sinh ra định mệnh hay định mệnh là cái có sẵn từ trước, giấu mình trong tiềm thức, trong tình cảm, hễ có cơ  hội là lộ diện trong cuộc đời để mang tên số phận...Con chuồn chuồn cánh mỏng, một kiếp người quá ngắn ngủi mà chứa đựng bao thăng trầm, bao biến đổi. Em, người đàn bà yếu đuối và đa cảm nổi trôi trong dòng đời trong đục, với sức lực mong manh nhường kia, đơn độc nhường kia, có điều gì chới với. Bất giác tôi liên tưởng đến những con chuồn chuồn kim, chuồn chuồn cơm, chuồn chuồn ớt lảo đảo chập chờn bay trong những chiều chớm bão trên bờ đê quê tôi. Tôi cố nhìn sâu vào mắt em để tìm sức lực em còn lại qua bao ngày tháng nhọc nhằn. Cái ý nghĩ thôi thúc tôi trên đường đến nhà em là trao lại con chuồn chuồn ban chiều tôi bắt được bỗng dưng tan biến.Tôi không đủ can đảm để cho vào bộ sưu tập  của em thêm một con chuồn cánh mỏng nữa, dẫu đó là ước mơ của tôi suốt mười lăm năm qua. Mười lăm năm, đã bao đêm con chuồn chuồn ấy chập chờn bay vào giấc ngủ của tôi, nhưng mỗi lần tôi giơ tay bắt nó, nó lại biến mất. Có một nỗi sợ hãi len lỏi, mơ hồ xâm chiếm tâm hồn tôi. Liệu con chuồn chuồn kia có phải là điềm báo? Nó có mối liên hệ gì giữa số kiếp em và tôi? Tôi không lo cho tôi, tôi chỉ lo cho Nguyệt thêm một lần lận đận. Mười lăm năm đoạn trường quá thừa cho một cô gái đức hạnh và xinh đẹp như em. Mười lăm năm trăn trở, dằn vặt đối với tôi bây giờ dẫu có thêm chút nữa thì với một thằng đàn ông có chút thành đạt như tôi có thể "nhăn nhó" chịu được, có thể "lóc xóc" qua quãng đường còn lại. Với ý nghĩ đó tôi quyết định không trao lại cho em con chuồn chuồn nữa. Đang miên man trong dòng tâm tưởng đó, bất chợt em kéo tôi về với hiện tại:

 

- Anh nghĩ gì vậy? Anh vẫn không quên mang theo con chuồn chuồn ớt ban chiều đấy chứ? Anh Dương có biết em đợi nó từ bao lâu rồi không? Anh có còn nhớ không? Anh...

 

 Những câu hỏi liên tiếp của em như sóng xô bờ làm tôi ngộp không thở được.

 

- Em muốn quay về cái tuổi ngày xưa biết chừng nào!

 

Giọng của em chùng xuống, nhẹ như một tiếng thở gần, nhưng rõ ràng và ngọt ngào đến từng từ một. Ánh mắt của em nhìn thẳng vào mắt tôi rực rỡ một sức sống có lẫn sự dỗi hờn trách cứ tuổi học trò. Trước tôi bây giờ thực sự là em của mười lăm năm trước, Nguyệt của sự say mê trẻ trung, Nguyệt của hoa ngọc lan thăng hương, trong trắng và tinh khiết mà tôi luôn cất giữ trong trái tim mình suốt những năm tháng xa em.

 

          Tôi lặng lẽ nhìn em không nói câu nào, ngoài kia bầu trời đêm thăm thẳm, những vì sao nhấp nháy tìm nhau, ngọn gió khuya tình tự sau vườn nghe xào xạc. Rồi với sự trịnh trọng và rất đỗi thiêng liêng của một kẻ cầu hôn trao nhẫn đính ước, tôi từ từ cầm lấy bàn tay em đang mở xòe như cánh hoa, đặt vào đó con chuồn chuồn ớt đỏ chót. Bàn tay em hồng lên và run rẩy, khuôn mặt em ửng hồng, những giọt nước mắt long lanh lăn xuống rơi vào bàn tay tôi nồng ấm. Bàn tay em nhẹ nhàng nắm lại như sợ con chuồn chuồn cất cánh bay đi. Tôi run run kéo bàn tay ấy lại gần, lại gần rồi đặt lên đó một nụ hôn chếch choáng...hai cái đầu chụm vào nhau lúc nào không ai biết.

 

...Tôi rời khỏi nhà em khi trăng thượng tuần ló  khỏi rặng tre đầu làng. Trái tim trung niên của tôi vẫn chưa thôi rộn ràng sau những phút giây huyền diệu...

 

 Đêm ấy tôi không tài nào chợp mắt nổi, hình ảnh ngày xưa hiện về như những cuốn phim...

 

          Dạo ấy, khi tôi bước vào cuối cấp 3 thì tình cảm của tôi và Nguyệt hình như cũng chuyển trạng thái, có gì đó khang khác trong ánh mắt, trong cử chỉ, trong cư xử của cả hai đứa. Tôi thích gặp em thường xuyên hơn và em hỏi tôi về các bài văn, bài toán nhiều hơn. Thậm chí đôi khi cao hứng, tôi còn làm cả thơ tình học trò bỏ vào những quyển vở của em nữa. Chúng tôi đón nhận nhau một cách hồn nhiên, trong sáng. Tôi biết một ngươì khác cũng quan tâm đến em như tôi, người đó là Tiến. Tình cảm tay ba kiểu học trò này cũng tương tự như bao mối tình tay ba có ở trên đời. Nhưng từ điều linh cảm sâu xa, từ sự mách bảo của trái tim, tôi biết giữa tôi và em là tình cảm song phương, còn giữa Tiến và em hướng véc tơ chỉ có một chiều. Chính Nam cũng xác nhận điều đó trước tổ học tập ba đứa chúng tôi. Tiến là con nhà khá giả, bố Tiến là cán bộ huyện, Tiến có sức mạnh về vật chất và địa vị. Bố tôi là liệt sĩ, mẹ tôi phải tần tảo một nắng hai sương nuôi tôi ăn học, nhưng có lẻ giữa tôi và em như đã thân nhau từ kiếp trước. Điều này đặt tôi vào vị trí của "kẻ mạnh" hơn Tiến trong quỹ đạo ba cực trên. Hình như trong lĩnh vực tình cảm "kẻ mạnh" thường vô tư chủ quan, còn "kẻ yếu" thường tìm mọi cách, thậm chí cả thủ đoạn để tăng cường sức mạnh trên con đường chinh phục người đẹp. Tiến có phải là hạng người này không? Khi ấy thực tình tôi không quan tâm, nhưng tôi thấy nhiều lúc hắn nhìn tôi với đôi mắt ghen tị, nếu không muốn nói là tức tối.

 

           Một sự kiện đã cải thiện tình hình trên. Năm 1972 cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn rất ác liệt. Trong đợt tổng động viên năm đó Nam và Tiến lên đường nhập ngũ, vì lý do con một, bố là liệt sĩ nên xã và huyện đội kiên quyết không cho tôi nhập ngũ, phải ở lại tiếp tục học tập. Điều này làm cho tôi rất buồn là không được cùng các bạn trực tiếp cầm súng chiến đấu, tuy vậy tôi cũng cảm thấy vui vì không phải xa Nguyệt.

 

          Một buổi chiều mùa đông, trước ngày lên đường, Tiến đến tìm tôi. Với vẻ mặt buồn buồn và rất đỗi thành thực, Tiến bộc bạch lòng mình. Tiến nói rằng Tiến rất yêu Nguyệt, yêu từ lâu rồi và Tiến không hề muốn xa Nguyệt, nếu muốn bố Tiến có thể để Tiến không phải nhập ngũ đợt này, nhưng Tiến không thể. Tiến không muốn  mọi người coi thường nhất là Nguyệt. Tiến còn nói với tôi rằng Tiến luôn cầu mong cho Nguyệt được hạnh phúc. Tiến phải ra mặt trận, sống chết không thể nào nói được, chỉ có tôi mới đưa lại cho Nguyệt được điều đó, rồi với giọng rất người lớn, Tiến giao nhiệm vụ cho tôi:

 

 - Cậu ở nhà phải chăm sóc Nguyệt chu đáo, làm cả phần việc của tớ và Nam nữa, nếu có mệnh hệ gì đối với Nguyệt, sau này ở chiến trường trở về chúng tớ sẽ không để cậu yên đâu.

 

           Nói xong câu đó Tiến buồn rầu nhìn ra khoảng sân vắng rồi buông một lời bâng quơ: "Mà biết có còn ngày ấy không nhỉ?"

 

          Tôi nghe Tiến nói mà nao lòng, một cơn gió lạnh mồ côi thổi lướt qua căn nhà tuềnh toàng. Tôi ái ngại nhìn Tiến và dâng trào một nỗi niềm thông cảm chân thành mà trước đó tôi chưa hề dành cho "hắn". Tự nhiên tôi nhận ra những trò chơi trội của hai đứa chúng tôi thể hiện trước Nguyệt mới vặt vãnh, trẻ con và nhạt nhẽo biết chừng nào. Cái "lớn" bất ngờ trong suy nghĩ của Tiến ở vào thời điểm của một người sắp trở thành chiến sĩ để ra trận thực sự đánh thức lòng cao thượng, tính "hiệp sĩ" kiểu học trò của tôi khi ấy. Tôi vừa thương vừa cảm phục Tiến và thấy mình nhỏ bé, ích kỷ quá. Tôi được nhiều quá chăng? Được ở lại học, được chăm sóc Nguyệt, còn Tiến thì sao? Phải đi ra nơi mũi tên hòn đạn, phải hy sinh cả tình yêu đôi lứa. Không thể mất công bằng như vậy! Một quyết định lóe lên trong đầu tôi rất nhanh nhưng rất rõ: Tiến cần phải có Nguyệt, người lính cần phải có một hậu phương để níu giữ...để động viên. Tôi nhìn Tiến rất lâu rồi nói với Tiên bằng cái giọng  như không phải của chính mình nữa:

 

- Tiến cứ yên tâm mà lên đường, đánh giặc giỏi, mình và Nguyệt sẽ đợi cậu ngày chiến thắng trở về. Mình tin là Nguyệt sẽ đợi… mà cậu đã chào Nguyệt chưa, chúng mình cùng đi tìm Nguyệt nhé.

 

          Chúng tôi đến nhà Nguyệt khi em đang học bài. Em đã biết chuyện Nam và Tiến nhập ngũ, nhưng em không có vẻ gì là quan tâm cả. Em vô tư như một đứa trẻ:

 

- Thế là chia đều, anh Nam và anh Tiến ra tiền tuyến, em và anh Dương ở lại hậu phương, hòa hai đều nhé, không ai nạnh kẹ ai nữa phải không anh Tiến?

 

- Em hỏi Tiến nhưng lại đưa sang tôi cái "lườm" chết người, làm tôi như bị điện giật. Tôi tránh cái nhìn của em lạnh lùng hỏi: Em không thấy phải ưu tiên người đi chiến trường sao? Tiến cắt ngang, giọng buồn buồn, đầu cúi xuống:

 

- Anh đi rồi Nguyệt vui hơn có phải không? Chẳng còn ai "chọc gậy bánh xe" nữa, sướng nhé!

 

          Không khí chùng xuống, một thoáng hối hận hiện lên trên mặt em, tôi phá tan sự im lặng bằng lời đề nghị:

 

- Chúng mình ra bờ đê chơi đi, coi như buổi đi chơi chia tay Tiến.

 

Trước khi đi Nguyệt chạy ra sau vườn hái mấy quả ổi, gói vào chiếc khăn mùi soa.

 

          Chiều mùa đông gió heo may se lạnh, bờ đê vắng người, những con chuồn chuồn đủ loại bay là là ngọn cỏ, dưới kia dòng sông vẫn vô tư chảy ra cửa biển. Ba chúng tôi đi đến ngồi lên chiếc bệ cống, tiếng nước chảy qua cửa cống nghe êm tai quá. Cả ba lặng lẽ vừa ăn ổi vừa nhìn ra rặng bần xanh ngắt phía trước mặt. Nhìn đàn vịt trời đang ngụp lặn đùa vui quanh những gốc bần, tôi hỏi đùa để gây không khí vui vẻ:

 

- Tại sao người ta lại gọi con gái là vịt trời nhỉ, Nguyệt có biết không?

 

Nguyệt ngây thơ thật lòng:

 

- Em chịu!

 

Tiến góp vui:

 

- Theo mình người ta nuôi con gái cũng như nuôi vịt trời, đủ lông đủ cánh là nó "tếch".

 

Tôi lý sự rởm:

 

- Đã nói của trời là của chung, ai cũng bắt được, mà ai bắt được là của người ấy. Đúng không nào?

 

          Em cười phì cả ổi đang nhai ở trong miệng, tay đấm thùm thụp vào lưng tôi một thôi một hồi rồi bĩu môi:

 

- Đừng hòng!

 

          Chúng tôi đang chuyện trò cười vui vẻ như vậy, bỗng một con chuồn chuồn ớt từ đâu bay đến đậu lên ngọn cỏ chân chim cao nhất trước mặt. Nó là con chuồn chuồn kích thước to đến lạ lùng, màu đỏ chót, hai con mắt tròn xoe, to, lồi và trong suốt, đôi cánh kép  như hai mảnh dù nhỏ lắt lay trước gió. Con chuồn oai vệ như một chiếc trực thăng. Chúng tôi chẳng ai bảo ai, cùng một lúc reo lên:

 

- Con chuồn chuồn đẹp quá!

 

  Nguyệt vốn là một cô bé thích chơi chuồn chuồn. Dạo còn nhỏ, em thường nhờ chúng tôi bắt hộ những con chuồn chuồn, xâu vào đuôi chúng cọng cỏ nhỏ, lúc ấy chuồn chuồn chỉ bay được những đoạn ngắn. Em vừa thả vừa chạy theo chuồn chuồn cho đến lúc mệt lử. Bây giờ trước mắt em là một chú chuồn ớt đẹp lạ kỳ, bỗng dưng do sở thích hay do một tiếng gọi nào đó, em buột miệng đề nghị: "Các anh bắt cho Nguyệt con chuồn kia đi".

 

          Thật là lạ, con chuồn nhìn tôi như tha thiết mời gọi và tôi nghe thoang thoảng như đâu đó có tiếng nói "hãy bắt nó đi". Có một linh cảm vừa nhen lên trong tôi rất lạ, đó không phải là con chuồn chuồn bình thường. Tôi đắn đo trước hai ý nghĩ: Một muốn tự mình bắt nó cho Nguyệt, một muốn dành cơ hội này cho Tiến, người sắp phải ra trận. Tiến xứng đáng được làm một cái gì đó cho Nguyệt trước lúc ra đi.

 

          Rồi như một trò đồng dao trẻ con, thật bất ngờ, một ý tưởng định mệnh xuất hiện trong đầu tôi và phát ra thành lời (nó chính là tiền đề cho cuộc đời của ba chúng tôi rẽ sang một hướng khác):

 

- Tiến này, tớ và cậu đứa nào bắt được cho công chúa” Nguyệt con chuồn chuồn kia thì đứa đó sẽ là Sơn tinh.

 

 Tôi nhận thấy mắt Tiến vụt sáng lên:

 

- Cậu nói danh dự đấy chứ!

 

 Tôi xác nhận:

 

- Quân tử nhất ngôn.

 

Tiến bóng gió nhưng là một thực tế khắc nghiệt:

 

- Chuồn chuồn thì có một mà kẻ bắt thì có hai, biết làm thế nào bây giờ đây.

 

          Tôi lấy hết can đảm nói nhanh như sợ nếu không nói ra ngay sẽ không bao giờ nói được ý nghĩ này nữa:

 

-Ưu tiên cậu, người sắp ra trận, tớ còn có cơ hội khác, nhưng cậu nhớ cho một điều, cậu chỉ có cơ hội duy nhất thôi đấy.

 

Nói xong câu ấy, tôi cảm thấy như có phần thanh thản, nhẹ nhõm nhưng là sự thanh thản nhẹ nhõm của một kẻ vô hồn. Nguyệt từ nãy giờ tỏ vẻ khó chịu vì bị loại ra khỏi cuộc chơi một cách võ đoán, nhưng khi nghe tôi nói vậy em vội lên tiếng:

 

- Như thế là không công bằng, các anh phải oắn tù tì cơ.

 

       Tôi hiểu em muốn cứu vãntình thế theo hướng có lợi cho tôi, dẫu biết đó chỉ là biện pháp may rủi. Điều này an ủi tôi rất nhiều, đồng thời nó thôi thúc tôi tích cực hành động vì người khác. Tôi nghĩ nhanh trong đầu, dẫu có oăn tù tì thì tôi cũng dành phần thắng cho Tiến. Quả vậy, sau tiếng hô oắn tù tì của Nguyệt, chỉ cần chậm hơn Tiến một giây, thời gian đủ để cho tôi ra tờ giấy trong khi đó Tiến đã ra chiếc kéo. Em nhìn tôi đầy vẻ trách móc tức tối, ánh mắt đó đã hóa thạch và đóng sạn trong tim tôi, dày vò đau đớn trái tim tôi trong suốt nhiều năm qua…

 

 Tiến ái ngại đứng dậy lò dò đi về phía con chuồn chuồn và đã bắt được nó. Em miễn cưỡng nhận con chuồn chuồn từ tay Tiến, không hề cảm ơn và không thốt ra một lời nào. Mắt em ngấn nước, đôi mắt đẹp như một vầng trăng khuyết khép lại. Đột nhiên em vụt đứng dậy và ù té chạy. Tôi và Tiến ngơ ngác nhìn nhau và cũng hiểu ra rằng chúng tôi quá xúc phạm đến em, đã đưa em ra để làm"vốn" cho lòng danh dự, làm ''con tin'' cho sự cao cả, tính ''hiệp sỹ'' của mình. Nhưng khi ấy với sự non nớt về nhận thức và kinh nghiệm, chúng tôi không thể lường hết hậu quả của hành động Đônkihotê đó. Nó hồn nhiên như một trò chơi tuổi trẻ, nhưng nó lại tồn tại dai dẳng như một lời nguyền.

 

...Đêm ấy tôi cứ thao thức mãi, suy nghĩ miên man để lý giải cho hành động của tôi lúc ban chiều. Cuối cùng tôi cho rằng, một được và hai mất. Cả em và tôi sẽ đau, nhưng tôi thì tự nguyện. Tiến là người duy nhất toại nguyện. Với người sắp ra trận thì cái được này hoàn toàn xứng đáng. Vào thời điểm ấy tôi chỉ nghĩ được như vậy, âu cũng là sâu sắc lắm rồi. Tôi tự an ủi mình rồi đi vào giấc ngủ lúc nào không biết. Trong giấc ngủ tôi mơ thấy con chuồn chuồn biến thành quái vật, đuổi tôi và em chạy dọc trên đê băng qua cánh đồng, cho đến khi chúng tôi bủn rủn cả chân không thể chạy nổi nữa và con chuồn chuồn bắt em bay ra phía biển, tôi gào thét nhưng tất cả đều chìm trong một trận cuồng phong...

 

           Vài ngày sau Tiến và Nam lên đường. Em giận dỗi tôi một thời gian dài sau đó. Tôi vẫn đến nhà em và tặng hoa ngọc lan cho em như mọi khi, nhưng em tỏ ra thờ ơ lạnh lùng, tiếp tôi khiên cưỡng hoặc tìm cách không gặp tôi. Còn tôi mỗi lần nghĩ về em đều bị ám ảnh bởi con chuồn chuồn định mệnh kia, nó như một lời nguyện không tài nào xóa đi được. Rồi thời gian như một thứ thuốc tẩy diệu kỳ và những ngày bận rộn ôn thi đại học cuốn hút hết tâm trí, sức lực của tôi. Tôi lãng quên em dần, vết tự thương trong lòng rồi cũng đã lên da. Tháng 9 năm ấy tôi có giấy báo đi học ở nước ngoài. Chỉ một ngày sau tin này được cả làng biết, em cũng biết. Với chủ ý có sẵn, em đã tạo ra sự tình cờ gặp tôi nơi giếng làng. Tôi tưởng trái tim tôi đã bình yên với nhịp đập không em. Nào ngờ, sau nhiều ngày gặp lại em,con ngựa ấy vẫn theo lối cũ. Em quay mặt vờ như không thèm nhìn đến tôi, nói trống không:

 

- Người ta sắp du học rồi có còn thèm nhớ đến gái quê?

 

Tôi vừa nói vừa cười:

 

- Có em không thèm nhìn đến cái bản mặt anh thì có!

 

           Em quay lại và em khóc thật, em khóc nấc lên như một đứa trẻ. Tôi nhớn nhác nhìn quanh xem có ai trông thấy không và đi lại sát bên em nói nhỏ:

 

- Thôi đừng khóc nữa, người ta cười cho, ngày kia anh ra Hà Nội rồi em còn giận nữa không ?

 

           Em nói trong nước mắt:

 

- Sao vội vậy, tối nay ra bờ đê chờ em nhé!

 

 Em nói nhanh và vội vã gánh nước về nhà. Tôi nhìn theo thấy nước sóng sánh hắt vào hai bắp chân để trần thoăn thoắt của em mà lòng vừa bồn chồn lo lắng, vừa khấp khởi mừng thầm.

 

Đêm chia tay trên bờ đê, tôi đã nói hết nỗi lòng mình. Rằng tôi rất yêu em và sẽ mãi mãi yêu em dù đi đến chân trời góc bể nào. Nhưng Tiến cũng rất yêu em, chúng ta không thể để cho người ở chiến trường phải thất vọng với những người ở hậu phương. Em là nơi gửi gắm và hy vọng của Tiến. Tôi là người bạn tốt của Tiến, em và tôi phải làm một cái gì đó cho Tiến, vì Tiến. Em đã khóc trong sự tủi hờn, em bảo tôi coi thường em, em nói em không phải là một thứ đảm bảo, một thứ hàng ưu tiên cho người này, người nọ. Em là cô gái có trái tim với nhịp đập riêng mình, sống cho riêng mình, không ai có quyền bắt nó phải đập khác đi được. Em nói rằng: Em chỉ yêu tôi và chỉ yêu tôi mà thôi, không có thứ định mệnh hay tiền kiếp nào bắt em khác đi được, và nếu có định mệnh, số phận thì đó là định mệnh và số phận cho tôi và em thành một đôi mãi mãi.

 

          Tôi thực sự xúc động khi nghe em nói. Tôi quên Tiến, quên đi lời nguyền, quên đi con chuồn chuồn ớt trên bờ đê ngày nào và dang rộng vòng tay ôm lấy em bằng nỗi khát khao dồn nén, tôi vuốt tóc em đã ướt đẫm sương đêm. Em nấc lên sung sướng trong vòng tay tôi, những giọt nước mắt rơi xuống vai tôi nóng hổi. Tôi đẩy nhẹ em ra, em mở mắt nhìn tôi như con chiên nhìn chúa. Tôi choáng ngợp và đầu óc mụ mị, có con sóng dâng trào vỗ vào lồng ngực như muốn vỡ tung ra. Không thể kìm nén tôi cúi xuống hôn lên đôi mắt đẫm nước, em rùng mình và khép nhẹ hàng mi. Và rồi đôi môi rát bỏng lướt khẽ tìm nhau. Ngay khi hai đôi môi chúng tôi sắp dính chặt vào nhau, tôi chợt thấy như có con chuồn chuồn ớt đỏ dọi bay thẳng vào đầu tôi và xuyên suốt cột sống làm cả người tôi tê buốt như có một luồng điện chạy qua. Tôi choàng tỉnh, giật bắn người và đẩy mạnh em ra, làm em suýt ngã ngửa ra phía sau. Em sợ hãy nhìn tôi.

 

 … Đó là lần gặp nhau cuối cùng của tôi và em cho đến chiều nay trên bờ đê, Sau hơn mười lăm năm xa cách.

 

           Suốt những năm học tập ở nước bạn, do điều kiện đặc biệt tôi không về nước lần nào. Vào giữa năm 1978 tôi chuẩn bị thi tốt nghiệp thì nhận được tin em cưới chồng và chồng em là Tiến, sau khi em tốt nghiệp trường cao đẳng sư phạm. Dẫu biết là khó có thể khác đi được, nhưng khi nhận được tin này tôi bỏ học, bỏ ngủ, bỏ ăn và lang thang trên các đường phố, công viên như một kẻ hành khất. Và một lần trong quán bar nhỏ, lần đầu tiên tôi uống rượu cho đến lúc chẳng còn biết gì trời đất nữa, tôi ngã gục dưới sàn nhà rồi chìm trong cơn say khướt. Trong cơn mê tôi thấy một con chuồn chuồn khổng lồ có màu sắc sặc sỡ, có hai cái răng nanh cong dài, trắng muốt như hai cái ngà voi. Nó xỉa hai cái răng nanh ấy vào người tôi, rồi tha tôi về một lâu đài lộng lẫy, đặt tôi lên chiếc giường vàng rực rỡ và cho tôi uống một thứ thần dược đựng trong chiếc cốc pha lê bảy màu. Sau khi uống xong thứ nước đó thì tôi tỉnh lại, mở mắt ra thì thấy thấy mình đang nằm trên chiếc giường đệm lò xo trải tấm ga màu mỡ gà mới, trong căn phòng sạch sẽ thơm nức mùi nước hoa hảo hạng và ngồi bên cạnh tôi là một cô gái Nga tóc vàng đẹp một cách lộng lẫy. Nàng thấy tôi mở mắt, vội reo lên và cười sung sướng, để lộ hai chiếc răng khểnh duyên dáng. Nàng tự giới thiệu tên là Natasa, cùng tên với nhân vật chính trong Chiến tranh và hòa bình của LépTônxtôi. Nàng học cùng trường với tôi và dưới tôi một lớp. Nàng thừa nhận là có biết tôi qua những đêm thơ sinh viên. Những ngày sau đó nàng chăm sóc tôi rất chu đáo tận tình, tuyệt nhiên nàng không hỏi tôi là tại sao uống rượu say. Còn tôi không hề tiết lộ cho nàng biết là con chuồn chuồn trong mơ chính là nàng. Tôi quên dần sự thật phụ phàng kia, nhưng còn em thì tôi không thể quên, tôi vẫn luôn cầu nguyện cho em được hạnh phúc. Mỗi quan hệ của tôi với ''con chuồn chuồn'' Nga ngày một gần gũi hơn. Nàng là người chủ động hoàn toàn, từ địa vị là ân nhân nàng hoán vị thành người tình của tôi. Không còn em, với tôi ai ở vị trí đó mà chả được, huống hồ nàng là một cô gái Nga xinh đẹp, bố nàng là một VIP đáng nể. Tôi vừa tốt nghiệp đại học bằng ưu lại vừa tốt nghiệp "trường gia đình" bằng bố. Nàng sinh con trai, tôi đặt tên là Nguyễn Liên Nam để ghi nhận tình hữu nghị hai nước Liên Xô - Việt Nam và cũng ghi nhận mối tình chóng vánh của tôi với nàng.

 

  Sau khi tốt nghiệp, do tác động tích cực của bố Natasa tôi được tiếp tục nghiên cứu sinh. Năm 1980 tôi về nước lần thứ nhất. Lần đó tôi về quê thăm mẹ thì mẹ con Nguyệt đã vào Nam thăm Tiến (Nguyệt lúc đó đã sinh cháu Nga). Năm 1983 sau khi bảo vệ thành công luận án tiến sĩ, tôi về thăm quê lần thứ hai thì Nguyệt đã vào ở hẳn trong Nam rồi. Hai lần về nước không gặp được Nguyệt tôi rất buồn, hơn nữa mẹ tôi đã yếu, vì thế quay lại Nga lần sau tư tưởng tôi biến động rõ rệt. Tính tôi trở nên khó chịu. Nasata đã qua cái tuổi mộng mơ, dần trở nên thực tế và thực dụng hơn. Nàng thường so sánh tôi với những người đàn ông Việt Nam khác, biết buôn bán làm tiền giỏi, rồi chê bai tôi đủ điều. Giữa những năm 80 xã hội Nga có nhiều thay đổi, kinh tế lâm vào tình trạng suy thoái, bố của Nasata thất sủng, cuộc sống của gia đình tôi gặp nhiều khó khăn. Nasata không phải là một phụ nữ biết tổ chức cuộc sống. Giữa chúng tôi chẳng có gì ràng buộc chắc chắn, một chút tình, một ít tiền, chỉ có điều đáng kể là đứa con chung. Sau nhiều lần va chạm, chúng tôi đưa nhau ra tòa và vui vẻ chia tay nhau. "Con chuồn chuồn" Nga bay đi một miền đất mới. Liên Nam theo mẹ cho đến tuổi trưởng thành thì có quyền lựa chọn ở đâu, Nga hay Việt Nam? Nơi nào có sức cám dỗ nó, níu giữ được nó thì nơi đó sẽ là nơi nó chọn. Tôi thường khuyên con như vậy.

 

...Dễ chừng đã quá canh ba, giường bên mẹ tôi trở mình liên hồi, thỉnh thoảng lại ho húng hoắng. Mẹ đã già yếu quá rồi, đã đến lúc cần phải có người chăm sóc. Tôi thương mẹ vô cùng, một đời mẹ đơn chiếc vất vả, chưa một ngày thảnh thơi. Tôi là một đứa con bất hiếu, vô tích sự, chưa một ngày chăm sóc mẹ. Hai người đàn bà tôi yêu, hai số phận thật gần nhau. Cả hai tôi chịu ơn và cả hai đều bị tôi phụ bạc. Đã đến lúc tôi cần phải gắn kết hai số phận ấy lại và neo giữ trong đời tôi. Tôi không có lý do gì để xa rời họ nữa.

 

          Ngày mai, ngay khi trời hửng sáng tôi sẽ nói với mẹ điều này và sau đó tôi sẽ nói điều này với Nguyệt.

 

          Trong thôn gà bắt đầu gáy ran.

 

 

Năm 2002, Viện Quân y 4

Nguyễn Xuân Dũng

* Đăng Văn Nghệ Quân đội tháng 7/2003