NGÀY ẤY KHÔNG THỂ QUÊN (4)- Hồ Thế Thắng

Phần 4: ĐÔNG TRƯỜNG SƠN  

 

            Sau 3 ngày hành quân từ Bãi Đá chúng tôi về A Lưới, cả một vùng rừng mênh mông bị chất độc hoá học làm trụi lá. A Lưới quê hương của A Vai và anh hùng Kan Lịch, đại đội tôi đóng quân ở Bò Lạch. Đây là ngã ba, một hướng đi về Huế (đường 71), một hướng đi Quảng Nam và ngược Quảng Nam là Khe Sanh (đường 14). Hơn bao giờ hết, tiếng súng cứ vọng về, một số cứ điểm của địch ở phía Tây Quảng Nam ta đã đánh và chiếm giữ. Nhiệm vụ mới cho đơn vị: Mở đường K (đường kín, đường này song song với đường 14). Yêu cầu mở đường lần này là làm sao xe chạy ban ngày mà máy bay địch không phát hiện được.

 

            Tuyến đường đã khảo sát và lộ trình của nó xuyên các dãy rừng rậm, chúng tôi mở đường rộng 3m, không dùng thuốc nổ để phá đá hoặc phá cây to, phía trên phải đan các cây lại với nhau để che kín đường ở dưới. Việc mở đường vô cùng khó khăn, vừa vất vả lại phải lo tránh các loại máy bay phát hiện. Bầu trời lúc nào cũng nghe tiếng rền rĩ của tiếng may bay trinh sát OV10 (loại 2 thân). Lúc này chiến tranh phá hoại của Mỹ ở Miền Bắc đã kết thúc, nên địch tập trung không lực đánh phá dữ dội đường Trường Sơn, có những ngày chúng dùng B52 để rải thảm, khói mù mịt, cây gãy ngổn ngang, song không hề trúng vào nơi trú quân. Phải nói kỹ thuật hiện đại của Mỹ lại là điểm lợi dụng của bộ đội Trường Sơn, máy bay Mỹ thả phương tiện dò tìm mà chúng tôi gọi Cây Nhiệt Đới, cây này có màu xanh lá cây, một ăng ten, khi máy bay thả nó cắm sâu vào đất chỉ nhô cần ăng ten lên. Bộ đội mình nhặt nó và tập trung vào nơi mà chúng không ngờ là gậy ông đập lưng ông, đó là những đoạn đường mà việc mở đường gặp muôn vàn khó khăn, phải tiêu tốn nhiều nhân lực và thuốc nổ. Ta dùng máy nổ giống tiếng xe, rú ga…trung tâm phân tích thông tin của địch sau khi xác định toạ độ từ cây nhiệt đới bảo về, lập tức chúng có kế hoạch oanh tạc để chặn việc chi viện của ta vào chiến trường.

 

            Mở đường chúng tôi không ngại bom nổ chậm, vì bom dễ phát hiện, mà ngại nhất là mìn vướng và mìn lá, loại này giống cuộn băng cá nhân, dẹt mà xanh dễ lẫn với lá, nếu dẫm phải thì mất hẳn bàn chân. Chúng tôi phải tập trung thu nhặt đào một cái hố thả vào và đốt.

 

            Trong đợt mở đường này, tôi và Thúc gặp được mấy em đồng hương người Nghi Hải đó là em Thương, Chắt, Hằng, Thu các em ở E217 cũng tham gia mở đường lần này, gặp nhau vào tháng 8/1973, các em vui lắm, kể cho chúng tôi bao nhiêu chuyện về quê hương, trong đó chuyện Trung đội 12ly7 của các o dân quân bắn rơi máy bay Mỹ năm 1972…được gặp nhau trong chiến trường là vui lắm rồi, các em nhập ngũ tháng 5/1973. Bọn tôi rất thương các em, đối với bộ đội nữ ở chiến trường thì gặp muôn vàn khó khăn, nhất là về tình cảm, không hiểu các em có vượt qua nổi không? Đơn vị tôi có một đại đội TNXP, các chị ấy vào chiến trường trước chúng tôi, cả đại đội bị bệnh Ích tơ ri đến 70% (bệnh này khi lên cơn là xé tan quần áo, chỉ cần gặp một nam giới là ôm chầm lấy ngay…). Kỷ luật chiến trường hết sức khắc nghiệt, cẩm tuyệt đối chuyện quan hệ nam nữ. Ở E bộ trung đội thông tin cũng có vài cô bị bệnh này. Hồi đó nếu bọn tôi được nghỉ đi thăm các cô ở đơn vị TNXP, các cô mời bằng được ngồi cùng võng để trò chuyện, dù là nam nữ nhưng quan hệ hết sức trong sáng. Bây giờ các em ở Nghi Hải đã thành bà cả rồi, chúng tôi thường gặp nhau trong Hội Lính Trường Sơn.

 

            Do thiếu dụng cụ như dao, búa, rìu, tiểu đoàn thành lập tổ rèn gồm 2 người: Bác Phán người Nam Định (gọi bác vì đã 48 tuổi) và tôi, bác Phán có tay nghề về rèn, còn tôi có sức khoẻ, hơn nữa chỗ xe bị máy bay bắn cháy ở các trọng điểm tôi đều nhớ. Chúng tôi đến xe đổ tháo lấy các nhíp xe để về rèn dụng cụ. Công việc vất vả, nhàm chán: Đốt than, tìm nhíp, rèn. Tổ rèn ở ngay tiểu đoàn bộ, ở đây tôi gặp lại Mai Đại Dũng, Dũng điều về liên lạc tiểu đoàn, thay cho Tân đã về E bộ. Do kỷ luật chiến trường nên “Thương anh đó mà giả đò ngó lơ”, Dũng lại khác. Dũng rất thân với cô Lâm, y tá người Hải Dương, có một hôm anh Vĩnh người Khánh Sơn-Nam Đàn, Trợ lý chính trị tiểu đoàn sai Dũng xuống đun nước sôi cho thủ trưởng tiểu đoàn, buổi tối mà sau 2 tiếng Dũng vẫn chưa đưa nước sôi lên, anh Vĩnh xuống bếp kiểm tra thì thấy nồi quân dụng đã cháy, còn Dũng và Lâm đang ngồi tâm sự. Anh Vĩnh rất tế nhị, anh lại gần 2 đứa và nói: Này chúng mày làm cháy nồi quân dụng rồi, liệu tìm nồi khác mà đun ngay nước sôi cho thủ trưởng. Sau đó anh gặp riêng Dũng là đồng hương và khuyên không nên như thế nữa. Tôi biết chuyên này và trêu Dũng, Dũng chỉ cười và nói là quan hệ trong sáng.

 

            Hết đợt rèn, tôi về đơn vị làm nhiệm vụ bắc cầu, gần 2 tháng trời ngâm nước, chân chúng tôi bị dợt hết và móng chân bong cả. Việc bắc cầu tuy vất vả nhưng thật vui, tôi nhớ chúng tôi gặp một đoang các cô của Khu uỷ Trị Thiên đi về căn cứ, lội suối qua chúng tôi, các cô mặc quàn áo bà ba, một số cô thì xắn cao quần để lội, một số thì để nguyên tay túm ở giữa quần kéo lên một chút, tôi buồn cười và cất tiếng trêu chọc: Này em ơi thả nó ra cho nó uống nước với, túm chặt nó ngạt thở đấy, có cô cũng không vừa, cô ấy đáp lại: Em định thả rồi nhưng gặp các anh nên phải giữ vì sợ thả ra nó cắn các anh, cậu Uy người Hải Phòng đột nhiên nói: Đừng lo anh cho nó quả chuối ăn là nó thôi ngay mà, thế là cả hai bên cười oà.  

 

            Gần hết đợt làm cầu tôi bị sốt rét cao, sốt đến 41độ, gần 1 tuần không giảm, không ăn được, phải về trạm xá của trung đoàn điều trị. Thời gian điều trị ở trạm xá, tôi có vài lần sang E bộ thăm Tân và anh Yêm, ở E bộ có bàn bóng bàn, lúc này tôi đâu có biết chơi, thấy anh Yêm chơi bóng bàn rất khá. Gần chục ngày điều trị, tôi ra viện và trở về đơn vị. Thế là mùa khô 73-74 kết thúc với chiến dịch mở đường K thành công, lúc này xe có thể chạy cả ngày lẫn đêm, mùa mưa vẫn có thể chạy xe được. Mùa mưa này chúng tôi không phải chuyển sang Tây Trường Sơn, chiến dịch giải phóng Miền Nam sắp sửa mở màn, mọi vấn đề đề về binh lực, hậu cần ta đã chuẩn bị tương đối đầy đủ, chỉ chờ thời cơ mà thôi.

 

            Một mùa mưa nữa lại đến, mưa xối xả cả ngày đêm, rừng núi mịt mờ, lúc này chúng tôi không phải ở hầm nữa mà làm lán, trên lợp tăng, lán bằng nứa tre, sạp ngủ của chúng tôi bằng nứa. Việc vận chuyển lương thực hậu cần tương đối khó khăn, ở đây chúng tôi được bà con Pa cô đổi cho rau để ăn, rau cải đắng, ăn một lần thì nhớ mãi. Rau được trồng trên nương cọng nhỏ như chiếc đũa, lá nhỏ thon, ăn có vị hơi đăng đắng, ngòn ngọt, dòn và thơm (Năm 2009, vào thăm lại chiến trường xưa chúng tôi đã được ăn lại rau này).

 

            Mùa mưa này, đơn vị tôi chủ yếu bảo vệ và sửa chữa đường cho xe vận chuyển, có những đợt xe sa lầy, chúng tôi thật vất vả mới đưa xe vào được. Mùa mưa này tôi và anh Tạ ít đi săn hơn. Tôi nhớ lần cuối cùng đi săn là săn vượn, sau đợt này tôi không bao giờ dám ăn thịt khỉ hay vượn nữa. Sáng hôm đó trời nắng trong, tôi và anh Tạ đi sâu vào đại ngàn, đến khu rừng nguyên sinh, nghe tiếng vượn hót réo rắt vui tai, ngược chiều gió chúng tôi tiến lại gần cây cổ thụ, nấp sau tảng đá, tôi thấy 2 con vượn long hơi vàng xám, có đốm trắng trước ngực và trán, con vượn chồng đu ở cành cao, vượn vợ ở cành thấp, trên tay chúng bế đứa con nhỏ, vượn đực hú lên một tiếng rồi tung con cho vượn cái, hai chân sau quặp ở cành, hai tay trước vươn ra để bế con, cứ như thế trông vui mắt, anh Tạ nhắm vào con vượn đựckhi con vượn đực giang hai tay bế con chuẩn bị quăng cho vượn cái, anh Tạ nổ súng, viên đạn xé tan ngực, con vượn đực hú lên một tiếng não nùng lấy tàn hơi quăng con cho vượn cái, vượn cái đón được con cũng hú lên não ruột, nước mắt chảy ra nhìn chồng lần cuối rồi tung mình bế con chạy mất. Tôi ôm súng về luôn không hề nhìn lại, một lúc sau anh Tạ đuổi kịp tôi và nói: Mình chôn con vượn rồi, cả hai chúng tôi lầm lũi quay về đơn vị, chuyện này đến bây giờ tôi mới kể, nếu là thời đại ngày nay chắc là đi tù, nhưng hồi đó săn bắn trong chiến trường là chuyện bình thường.

 

PHẦN KẾT: Đồng đội và các bạn thân mên!

 

            Hồi ký của tôi chỉ là một góc rất nhỏ của chiến trường ngày ấy, có những kỷ niệm mà không thể kể ra cùng các bạn, đó là những sự hy sinh không đáng có ở chiến trường mà nhớ lại càng đau lòng. Hẹn đồng đội và các bạn tôi sẽ viết tiếp về chiến dich Hồ Chí Minh và những ngày sau giải phóng Miền Nam, đại đội tôi vẫn còn một số đồng chí hy sinh và bị thương khi Tổ quốc đã hoàn toàn thống nhất.

 

            Hiện tại các bạn tôi trừ những đồng đội đã hy sinh, còn lại đã nghỉ hưu: Đại tá Trương Xuân Tân lữ trưởng Đoàn Công binh Hải Vân, Đại tá Võ Mạnh Nga giám đốc một công ty xây dựng của Binh đoàn 11, Đại uý Nguyễn Ngoc Hùng chuyển ngành năm 1994 làm Phó Ban A thành phố Vinh, Đại uý Võ Xuân Yêm do sức khoẻ nghỉ hưu năm 1994, Thương uý Mai Đại Dũng, Trung uý Phạm Văn Thúc, Trung uý Ngô Thanh Giáp, Trung uý Trương Xuân Chí, Trung uý Nguyễn Đình Tuệ đã nghỉ hưu và chế độ bệnh binh. Tôi chuyển ngành năm 1987 với  quân hàm Trung uý về dạy học với hạ sỹ Phạm Đình Minh.   

 

 29/11/2015

Hồ Thế Thắng